instead of overthink, let’s think clearly!

Chào bạn,

Cuối tháng Mười, nhà Đông Labs khép lại khóa ghi chép cảm xúc bằng một buổi offline ấm cúng. Chúng mình đã cùng nhau cảm nghiệm sâu sắc câu nói nay đã trở thành kim chỉ nan của cộng đồng: Cảm xúc là đơn vị nhỏ nhất của phát triển bản thân.

Cảm xúc là thứ ta cần lắng nghe nhiều hơn, phản ứng ít hơn; còn suy nghĩ là thứ ta nên nghi ngờ, kiểm chứng và đôi khi là bác bỏ nhiều hơn. Trớ trêu thay, chúng ta thường làm ngược lại: bác bỏ cảm xúc và tin vào suy nghĩ – trong khi nhiều suy nghĩ thật ra chỉ là những thiên kiến nhận thức được lặp đi lặp lại.

Trong bài viết tuần này, mình muốn cùng bạn khám phá một trong những thiên kiến mạnh mẽ nhất chi phối cách ta nghĩ: thiên kiến xác nhận (confirmation bias) – hiểu nó, nhận diện nó, và học cách bảo vệ mình bằng tư duy khoa học.

Chúc bạn đọc vui,

Thiên kiến xác nhận là gì?

Thiên kiến xác nhận là xu hướng chỉ tìm, nhớ, và tin vào những dữ kiện ủng hộ cho quan điểm mình đã có từ trước. Thiên kiến xác nhận giải thích hiện tượng vì sao mà hai người cùng nhìn vào một dữ kiện giống y hệt nhau và vẫn có thể có hai kết luận hoàn toàn trái ngược.

Trong một nghiên cứu kinh điển của Charles Lord và cộng sự (1979), người tham gia được hỏi về quan điểm của họ đối với án tử hình: ủng hộ hay phản đối. Sau đó, họ được đọc hai báo cáo nghiên cứu: một báo cáo cho rằng án tử hình giúp giảm tỷ lệ giết người, và một báo cáo khác cho rằng không có tác dụng như vậy.

Kết quả cho thấy, người tham gia có xu hướng tin tưởng hơn vào báo cáo phù hợp với niềm tin sẵn có của họ, và ngược lại, đánh giá báo cáo đối lập là thiếu thuyết phục hoặc thiên vị. Hệ quả cuối cùng là niềm tin của mỗi bên không hề bị lung lay mà còntrở nên cực đoan hơn. Người ủng hộ án tử hình càng có thêm bằng chứng rằng niềm tin của mình là đúng. Ở chiều ngược lại, người phản đối án tử hình càng tin rằng nó nên được bãi bỏ.

Thí nghiệm này cho thấy một điều đáng suy ngẫm: Chúng ta không chỉ tiếp nhận thông tin, mà còn sàng lọc thông tin theo cách củng cố những gì mình đã tin từ đầu.

Thiên kiến xác nhận không chỉ áp dụng đối với những niềm tin về các vấn đề xã hội phức tạp mà còn có liên quan mật thiết đến nhiều lỗi tư duy phổ biến mà chúng ta thường dễ mắc phải hằng ngày, chẳng hạn như:

  • Hiệu ứng tự hoàn thành lời tiên tri (Self-fulfilling effect)

  • Thiên kiến sống sót (Survivorship bias)

  • Hiệu ứng định kiến tư duy (Mental set effect)

  • Ngụy biện viện dẫn thẩm quyền (Appeal to authority fallacy)

Self-fulfilling effect

Hiệu ứng tự hoàn thành lời tiên tri là hiện tượng tâm lý trong đó niềm tin ban đầu của bạn (dù đúng hay sai) ảnh hưởng đến hành vi của bạn, và chính hành vi đó khiến niềm tin ban đầu trở thành sự thật. Ví dụ:

  • Bạn tin vào một điều gì đó → ví dụ: “Tôi không giỏi thuyết trình.”

  • Niềm tin này ảnh hưởng đến hành vi → bạn tránh cơ hội phát biểu, không luyện tập, lo lắng khi phải nói.

  • Hành vi đó dẫn đến kết quả củng cố niềm tin ban đầu → bạn nói dở thật, khiến niềm tin “Tôi không giỏi thuyết trình” càng mạnh hơn.

Nếu như confirmation bias là giai đoạn nhận thức (bạn chỉ chú ý và tin vào thông tin ủng hộ niềm tin sẵn có) thì self-fulfilling effect là giai đoạn hành vi (bạn hành động theo niềm tin đó, khiến nó trở thành sự thật).

Thiên kiến xác nhận và hiệu ứng tự hoàn thành lời tiên tri cũng là lý do vì sao mình chưa bao giờ tin tưởng vào các mô hình hướng nghiệp truyền thống, kiểu như tìm điểm mạnh, điểm yếu, hay theo đuổi đam mê, và đọc các mô tả công việc điển hình để chọn trường, chọn ngành, rồi chọn nơi làm việc sao cho khớp với các đặc điểm đó, và cuối cùng là trao thân gửi phận cho một sự nghiệp nào đó suốt cuộc đời mình (và cảm thấy mắc kẹt).

Survivorship bias

Survivorship bias (thiên kiến sống sót) là khuynh hướng chỉ nhìn vào những trường hợp thành công, mà quên đi tất cả những người thất bại, nên ta rút ra kết luận sai lầm. Nếu confirmation bias khiến ta chỉ nhìn thấy điều ủng hộ niềm tin của mình, thì survivorship bias khiến ta chỉ nhìn thấy người và dữ liệu còn sống sót – những minh chứng khiến ta càng tin rằng mình đúng. Ví dụ:

  • Khi nghe câu chuyện thành công của startup, ta tin rằng chỉ cần dấn thân là sẽ thành công, mà quên hàng ngàn công ty đã thất bại mà không ai kể.

  • Khi đọc về người bỏ đại học thành công như Steve Jobs, ta bỏ qua số đông người bỏ học khác đang vật lộn mưu sinh.

  • Khi ngưỡng mộ cặp đôi yêu nhau 10 năm rồi cưới, ta không thấy hàng trăm cặp tan vỡ sau 10 năm vì lý do tương tự.

Thiên kiến sống sót có thể khiến bạn đánh giá thấp khả năng thất bại, từ đó không chuẩn bị sẵn các phương án dự phòng hoặc có những thử nghiệm nhỏ trước khi triển khai một kế hoạch lớn. Và khi thất bại, bạn lại quay về với hiệu ứng tự hoàn thành lời tiên tri: vì mình không giỏi, nên mình thất bại! Một vòng lẩn quẩn tư duy lại bắt đầu.

Hiệu ứng định kiến tư duy

Hiệu ứng định kiến tư duy (còn gọi là Einstellung effect) là khuynh hướng tiếp tục sử dụng một cách giải quyết quen thuộc, ngay cả khi có cách mới hiệu quả hơn, vì ta đã từng thành công với cách cũ. Nếu confirmation bias khiến ta chỉ tìm bằng chứng ủng hộ niềm tin sẵn có, thì mental set effect khiến ta chỉ tìm lời giải trong khuôn khổ thói quen sẵn có.

Trong một thí nghiệm cổ điển, nhà tâm lý học Abraham Luchins (1942) cho người tham gia giải bài toán về múc nước bằng ba bình có dung tích khác nhau. Sau khi người tham gia giải được nhiều bài theo cùng một công thức, nhà nghiên cứu đưa ra một bài mới có cách giải đơn giản hơn. Nhưng đa số người tham gia vẫn áp dụng công thức cũ phức tạp, thay vì nhận ra giải pháp mới ngắn gọn hơn, đó chính là mental set effect.

Ngụy biện viện dẫn thẩm quyền

Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của “chuyên gia”.

Chỉ cần mở mạng xã hội, bạn sẽ thấy hàng trăm người nói về tâm lý học, chữa lành, phát triển bản thân – như thể họ vừa bước ra từ phòng thí nghiệm Harvard. Họ có thể khiến bạn tin rằng mọi thứ đều là trauma, năng lượng của bạn hút về điều bạn nghĩ, hay hãy cứ tin vào vũ trụ, rồi điều tốt sẽ đến, blah blah,…

Ngụy biện viễn dẫn thẩm quyền xảy ra khi người ta cho rằng ý kiến của một chuyên gia được công nhận trong một lĩnh vực cũng nên được tin tưởng trong một lĩnh vực khác.

Bạn yêu thích một người nổi tiếng ở một lĩnh vực. Khi người đo rao bán một mặt hàng trong lĩnh vực khác, liệu bạn có mua hàng của họ? Có lẽ bạn nghĩ câu hỏi này thật buồn cười. Vì bạn đâu có mua nhãn hiệu mì gói mà Hồ Ngọc Hà quảng cáo hoặc mua kẹo giảm cân của Thùy Tiên, dù bạn nghe nhạc của Hà và ngắm Tiên trình diễn áo tắm?

Nhưng để mình lấy một ví dụ khác.

Hẳn là bạn đã nghe qua scandal Hiếu TV hồi khoảng giữa năm ngoái.

Scandal Hiếu TV là một minh chứng cho hiện tượng ngụy biện viện dẫn thẩm quyền. Mọi người muốn học cách anh Hiếu trở nên giàu có thông qua đầu tư chứng khoán. Nhưng họ quên rằng cái mà anh đang dạy không phải là cái mà anh đã làm. Anh giàu có nhờ đầu tư là một, nhưng nhờ vào background của anh mới là chủ yếu. Mà các khán giả của anh lại không có background như anh. Nói cách khác, anh dùng một cái mà anh có (sự giàu có, nổi tiếng, kỹ năng thuyết phục), để đi bán một cái mà anh không có (kỹ năng đầu tư căn bản cho người đầu tư không có chuyên môn và mối quan hệ đặc biệt như anh).

Hãy cẩn trọng với những lời khuyên từ các influencers! Điều có hiệu quả với họ chưa chắc đã có ích cho bạn.

Giữa biển thông tin này, điều quan trọng không phải là bạn biết bao nhiêu, mà là bạn nghĩ rõ đến đâu. Và tư duy khoa học chính là tấm áo giáp giúp bạn bảo vệ mình khỏi những niềm tin sai lệch – dù chúng được nói ra bằng giọng rất tự tin và có hàng triệu lượt like.

Làm sao để rèn tư duy khoa học?

#1. Tư duy thử nghiệm.
Hãy biến niềm tin của bạn thành một giả thuyết có thể kiểm chứng.

Thay vì khẳng định “Tôi đúng,” hãy tự hỏi: “Nếu tôi sai thì sao? Tôi có thể thử nghiệm điều đó bằng cách nào?”

#2: Tư duy diễn dịch
Khi nghe một ý tưởng hay một lời khuyên từ ai đó mà bạn thích, hãy thử suy luận xem, nếu điều đó đúng, nó kéo theo điều gì nữa? Hoặc điều gì nữa cũng phải đúng để cho ý tưởng trên đúng?

Rất nhiều người nhầm ở chỗ: Thấy một ví dụ đúng là cho rằng điều đó luôn luôn đúng (và ngược lại). Tư duy diễn dịch giúp bạn kiểm tra tính logic bên trong niềm tin, thay vì chỉ xem bạn có thích niềm tin đó hay không.

#3: Tư duy quy nạp
Nếu như tư duy diễn dịch khuyến khích bạn dùng suy luận để kiểm tra một giả thuyết, thì tư duy quy nạp giúp bạn kiên nhẫn tìm thêm bằng chứng và nhận diện mô tuýp của chúng để đi đến kết luận.

Thông thường, chúng ta có xu hướng vội vàng chộp ngay lấy dữ kiện đầu tiên hợp ý ta và dùng nó để đi đến kết luận, vì cách này nhanh và đỡ mất công hơn. Tuy nhiên, hãy quan sát đủ lâu, ghi nhận cả những dữ kiện “trái tai.” Nếu 7/10 lần kết quả không như bạn mong, đừng vội bỏ qua vì đó chính là tín hiệu giúp bạn học được điều mới.

#4: Tư duy ghi chép.

Hãy ghi lại mọi thứ, cả cách bạn nghĩ, lý do bạn tin, và kết quả sau mỗi lần thử nghiệm.

Hầu hết mọi người bỏ qua bước này, vì họ tin trí nhớ mình đủ tốt. Nhưng không có ghi chép, bạn sẽ chỉ nhớ những điều khiến bạn cảm thấy (và mong là) đúng, và voila, thiên kiến xác nhận và một bầu đàn thê tử các thiên kiến khác sẽ bủa vây và làm tâm trí bạn bối rối.

Ghi lại giả thuyết, dữ kiện, cả những cảm xúc khi bạn phát hiện mình sai. Một năm sau nhìn lại, bạn sẽ ngạc nhiên nhận thấy mình đã thay đổi như thế nào. Sự thay đổi có bằng chứng và dựa trên tư duy rành mạch này khác với sự thay đổi theo kiểu cảm tính, vì vậy, bạn tin tưởng mình hơn, từ đó hài lòng và hạnh phúc hơn.

Lời kết

Tư duy rành mạch không phải là nghĩ nhiều hơn, mà là nghĩ rõ hơn.

Trong thời đại mà ai cũng nói “hãy tin vào bản thân”, có lẽ điều dũng cảm nhất là dám nghi ngờ chính mình. Để có óc hoài nghi lành mạnh, hãy tư duy như một nhà khoa học: thử nghiệm, suy luận, quan sát, và ghi chép lại, rồi dùng thời gian để làm thuốc dẫn cho những câu hỏi quan trọng nhất của bạn.

Một ghi chép tốt không chỉ cho bạn biết mình đã phát hiện ra gì, mà còn chỉ cho bạn biết rằng mình đã đi tới đó bằng cách nào.

Leave A Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *